Hiển thị các bài đăng có nhãn Xuat-huyet-giam-tieu-cau. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xuat-huyet-giam-tieu-cau. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Nếu con bạn được chẩn đoán ITP và bạn thấy lo lắng khi không biết “ITP là gì?” “Làm thế nào để đảm bảo con tôi vẫn có thể an toàn và sống vui vẻ như những đứa trẻ khác?”
Với việc tìm hiểu và nhận thức được những thông tin đúng, đồng thời đảm bảo những liên kết chặt chẽ, trao đổi thường xuyên với bác sĩ, điều này là hoàn toàn có thể.
Trước hết hãy bình tĩnh, hít thở sâu và từng bước một tìm hiểu những thông tin về căn bệnh này. Bạn nên biết rằng, trong đa số các trường hợp ITP ở trẻ em chỉ kéo dài vài tháng. Và hãy nhớ rằng rất nhiều phụ  huynh cũng đã ở vào vị trí của bạn và họ cũng đã học được cách làm thế nào để giúp con cái của họ đối phó với ITP.
Hãy bắt đầu từ việc tìm hiểu những điều cơ bản nhất của xuất huyết giảm tiểu cầu ITP.
Dưới đây là một số lời khuyên cho bạn, giúp bạn có thể xây dựng cho những đứa trẻ yêu quý của bạn một cuộc sống bình thường như những đứa trẻ khác.

1, Trẻ em mắc ITP vẫn có thể chơi và hoạt động được. Hãy làm việc với bác sĩ của bạn để xây dựng một kế hoạch cụ thể cho những hoạt động an toàn, dựa trên tình trạng sức khỏe và số lượng tiểu cầu của trẻ. Khi bạn đã có một kế hoạch vững chắc, hãy thảo luận với giáo viên và các phụ huynh khác. Ví dụ, bạn có thể xây dựng một bản tin ngắn về các hướng dẫn an toàn cho xuất huyết giảm tiểu cầu ITP kèm theo các hoạt động mà con bạn được khuyến khích tham gia, và thể hiện mong muốn bạn bè và giáo viên ở trường có thể cùng tham gia các hoạt động này. Tương tự như vậy, khi ở nhà bạn cũng nên có một quyển sổ, ghi lại những điều này và tìm các hoạt động mà cả nhà có thể cùng nhau tham gia.
Bạn có thể cùng trẻ xây dựng danh sách này, để đảm bảo có những trò chơi mà trẻ yêu thích và hãy giành thời gian mỗi ngày cho những hoạt động từ danh sách này.
Đảm bảo không gian vui chơi của trẻ được an toàn tối đa, với thảm mềm trải toàn bộ sàn nhà và tránh các đồ nội thất hay đồ chơi có cạnh sắc nhọn…
2, Với bác sĩ và những chiếc kim tiêm:
Đây là một nỗi sợ hết sức phổ biến ở trẻ em, đặc biệt là trẻ mắc ITP. Các chuyên gia y tế mặc áo trắng cùng với cây kim tiêm trên tay có thể  làm trẻ phát hoảng. Đừng lo lắng quá, bạn có thể giúp con bạn vượt qua nỗi sợ này bằng cách khuyến khích trẻ nói về những sợ hãi này. Hãy hiểu rằng trẻ đang có cảm nhận như thế nào và kịp thời giải thích với trẻ những thông tin có thể trẻ đã hiểu không chính xác để dẫn tới nỗi sợ này. Ngoài ra, bạn cũng có thể thử hỏi bác sĩ về việc có thể làm trên bản thận bạn trước mắt con để động viên trẻ và nhờ bác sĩ những thủ thuật giúp trẻ bớt thấy đau.
3, Giáo dục nhận thức cho những người xung quanh.
Mọi người xung quanh có thể sẽ thấy tò mò hoặc muốn giúp đỡ. Mặt khác họ cũng sẽ ảnh hưởng nhất định khi có tham gia vào môi trường sống quanh trẻ. Do vậy, hãy suy nghĩ về những thông tin mà bạn có thể giải thích cho họ. Mức độ thông tin này hoàn toàn là do bạn, nó phụ thuộc vào mức độ thoải mái của bạn khi tiết lộ thông tin.
Tuy nhiên hãy đảm bảo, mọi người sẽ có được những thông tin cơ bản cho việc đảm bảo an toàn, tránh va chạm, và những bước cần làm cho một tình huống khẩn cấp.
Bạn hoàn toàn có thể giúp họ có thể nhìn vào bảng thông tin cơ bản về nhóm máu, tình trạng bệnh của trẻ để bình tĩnh xử lý khi gặp đứa trẻ của bạn trong tình huống nguy hiểm.

Hãy để mọi người biết tới và quen với việc :
-          “Con tôi có một rối loạn về đông máu gọi là xuất huyết giảm tiểu cầu ITP, khiến bé dễ bị chảy máu và bầm tím”.
-          “ ITP không phải là ung thư và nó hoàn toàn không lây nhiễm sang người khác”
Đối với giáo viên và nhà trường, các phụ huynh khác, những đứa trẻ ở trường và những người tiếp xúc với con bạn hàng ngày, hãy để họ biết rằng :
-           “Con tôi có một rối loạn chảy máu là ITP. Đây là nguyên nhân khiến bé bị chảy máu và bầm tím dễ dàng. Trong hầu hết thời gian, bé có thể cảm thấy thoải mái, bình thường. Tuy nhiên cũng sẽ có những lúc, bé cảm thấy rất đói, mệt mỏi và cáu kỉnh. Điều này không phải là điều bé muốn mà đây chỉ là những tác dụng phụ của các loại thuốc điều trị mà bé đang dùng”
-          “ Bé cần tránh những chấn thương. Tôi sẽ cung cấp danh sách những hoạt động thể chất mà con tôi có thể tham gia. Tôi sẽ rất biết ơn nếu bạn thông tin tới tôi trước khi cho phép bé tham gia vào bất kì hoạt động nào cùng mọi người”
-          “Những điều này sẽ giúp bé giảm nguy cơ chảy máu, và xin hãy gọi 115 nếu bé có những va chạm, chấn thương vùng đầu”
Khi giao tiếp với các bạn cùng lớp của bé, hãy sử dụng những thông tin đơn giản và dễ hiểu nhất:
-          “Bạn ấy mắc ITP. Bệnh này đôi khi có thể làm cho bạn ấy dễ bị chảy máu và bầm tím.”
-          “Bạn ấy vẫn có thể vui chơi và muốn chơi nhiều trò cùng các bạn. Tuy nhiên, không phải tất cả các trò.”

Xem thêm: Xuất huyết giảm tiểu cầu ở trẻ em


Thứ Tư, 22 tháng 7, 2015

Thay đổi nội tiết tố testosterol được coi như lựa chọn thứ 2 (sau corticoids) trong điều trị xuất huyết giảm tiểu cầu.
Tuy nhiên, việc sử dụng loại hormon tổng hợp trong liệu pháp này lại đem đến cho bệnh nhân không ít tác dụng phụ nghiêm trọng, đặc biệt là đối với bệnh nhân nữ.
Danazol (Danocrine)
Danazol được FDA chấp thuận sử dụng cho điều trị lạc nội mạc tử cung từ năm 1970 và hiện được sử dụng trong điều trị một số bệnh như xuất huyết giảm tiểu cầu ITP. Đây là androgen tổng hợp (hormone giới tính nam), có tác dụng làm gián đoạn việc sản xuất estrogen (nội tiết tố nữ giới). Danzol được coi như là lựa chọn điều trị thứ hai cho ITP (sau corticoids), thường được sử dụng khi các biện pháp điều trị khác thất bại.
Trong một thử nghiệm, có 67% bệnh nhân ITP được báo cáo cho đáp ứng một phần hoặc hoàn toàn với Danazol. Tuy nhiên có khoảng 20% bệnh nhân gặp phải các tác dụng phụ nghiêm trọng và phải mất từ 3-6 tháng để có các đáp ứng.

Liều lượng
Danazol là thuốc viên liều 200 mg. 2-4 lần trong ngày (10-15 mg / kg / ngày).
Tác Dụng Phụ
Do đây là một nội tiết tố nam giới, nên nó có thể ảnh hưởng tới một số chức năng giới tính ở nữ giới, như thúc đẩy tăng trưởng lông không mong muốn, làm giọng nói trầm, và giảm kích thước vú. Ở nam giới nó có thể ảnh hưởng tới việc sản xuất tinh trùng. Danazol có thể gây giữ nước, làm trầm trọng hơn các bệnh lý mạch vành, bệnh thận và đau nửa đầu.
Thận trọng: 
- Danazol không được sử dụng cho phụ nữ mang thai, những người có ý định mang thai. 
- Danocrine được chuyển hóa ở gan và có thể làm tăng men gan, do đó các bệnh nhân trước khi được chỉ định điều trị bằng Danazol nên được tiến hành kiểm tra các vấn đề gan mật.
Hiệu quả đáp ứng:
Các bệnh nhân xuất huyết giảm tiểu cầu là phụ nữ lớn tuổi và/hoặc đã cắt lách có thể cho tỷ lệ đáp ứng cao hơn.

Xem thêm về các phương pháp điều trị xuất huyết giảm tiểu cầu ITP hiện tại :


Tài liệu tham khảo:
1. Wikipedia: Danazol http://en.wikipedia.org/wiki/Danazol
2. Maloisel F et al. “Danazol therapy in patients with chronic idiopathic thrombocytopenic purpura: long-term results.” Am J Med. 2004 May 1;116(9):590-4. http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/15093754
3. Provan, D, “International consensus report on the investigation and management of primary immune thrombocytopenia,” Blood. 2010 Jan 14; 115 (2):168-86. http://bloodjournal.hematologylibrary.org/cgi/content/full/115/2/168

4. Medline Plus: Danazol http://www.nlm.nih.gov/medlineplus/druginfo/meds/a682599.html

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2015

       Các vết bầm tím/ xuất huyết trên da là tình trạng rất thường gặp ở mọi người, mọi lứa tuổi. Với những vết bầm nhẹ, có thể tự hết mà không cần điều trị, tuy nhiên với những vết bầm có kèm sưng đau, một số biện pháp nên được áp dụng để giúp nhanh chóng giảm những khó chịu này. Tuy nhiên không phải ai cũng biết cách để làm giảm những vết bầm tím này đúng cách.

       Dưới đây là một số gợi ý về các điều trị các vết bầm tím, sưng đau, được các chuyên gia y tế Mỹ gợi ý:
Nếu vết bầm của bạn không cần tới sự đánh giá của bác sĩ, bạn có thể sử dụng các biện pháp điều trị tại nhà để giúp giảm sưng, đau, cứng khớp.
-                 - Nghỉ ngơi để bảo vệ khu vực bị thâm tím.
-                 - Đá  lạnh sẽ giúp làm giảm đau và sưng. Hãy đảm bảo đá lạnh được bọc trong một túi vải và chườm lên vết bầm.  Chườm đá trong khoảng 10-20 phút, 3 lần hoặc có thể nhiều hơn trong ngày.
-                - Trong 48h đầu tiên sau khi bị thương, tránh những thứ có thể làm tăng sưng, như tắm nước nóng, hoặc ngâm mình trong nước nóng, sử dụng đồ uống có cồn.
-               - Trong vòng 48 – 72 giờ, nếu sưng biến mất, hãy bắt đầu tập thể dục nhẹ nhàng với sự trợ giúp của hơi nóng ẩm. Một số chuyên gia khuyên bạn nên xen kẽ giữa các phương pháp điều trị nóng và lạnh.

-               -  Có thể sử dụng một băng đàn hồi để băng vết bầm tím, giúp giảm sưng. Nhưng không nên quấn nó quá chặt, vì nó có thể làm sưng khu vực bên dưới. Dấu hiệu để giúp bạn nhận ra mình đang quấn băng quá chặt là : tê, ngứa, đau tăng lên, lạnh, hoặc sưng ở vùng dưới chỗ băng. Nói chuyện với chuyên gia của bạn nếu bạn thấy cần phải sử dụng băng lâu hơn 48 – 72h.
-              -  Hãy cố gắng giữ cho khu vực băng cao hơn hoặc bằng với tim để giúp giảm thiểu sưng. Đặt vùng thâm tím trên gối khi phải băng bất cứ khi nào bạn ngồi hoặc nằm.
-               -   Nhẹ nhàng massage khu vực bầm tím để giảm đau và tăng cường lưu thông máu. Nhưng nếu nó gây đau đớn cho bạn, đừng nên xoa bóp.
-              -   Nếu các vết bầm tím của bạn gây ra đau đớn, có thể dùng một loại thuốc giảm đau, không cần kê đơn của bác sĩ như Acetaminophen (Tylenol), Ibuprofen (Advil, Motrin), và hãy làm theo các hướng dẫn trên nhãn.
-             -  Không hút thuốc hoặc sử dụng các sản phẩm thuốc lá khác. Hút thuốc sẽ làm chậm lành các vết sưng bầm vì nó làm giảm sửa chữa mô.
-                   Hãy gọi cho bác sĩ, nếu trong quá trình điều trị tại nhà xảy ra những điều dưới đây:
+ Vết bầm kéo dài hơn 2 tuần
+ Có các dấu hiệu của nhiễm trùng da
+ Các triệu chứng trở lên nặng hơn hoặc thường xuyên thâm tím hơn.
+ Có thêm các triệu chứng mới phát triển.

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2015

Giảm tiểu cầu là tình trạng số lượng tiểu cầu lưu hành trong máu giảm xuống dưới 100.000/ml (số lượng tiểu cầu bình thường là 150.000 - 450.000/ml). Do tiểu cầu là thành phần có vai trò quan trọng trong quá trình đông máu, nên khi tình trạng giảm tiểu cầu xảy ra sẽ lập tức có ảnh hưởng tới quá trình cầm máu, làm lành vết thương của cơ thể. Điều này cũng đồng nghĩa với việc quá trình chảy máu của cơ thể sẽ kéo dài và trở lên khó cầm máu.

Một số triệu chứng xuất hiện khi người bệnh giảm tiểu cầu sẽ giúp bạn có phát hiện sớm tình trạng bệnh:
- Giảm tiểu cầu nhẹ thường không có triệu chứng, chỉ tình cờ phát hiện khi xét nghiệm huyết đồ.
- Giảm tiểu cầu nặng, ví dụ < 20.000/ microlít, có thể biểu hiện bởi chảy máu kéo dài khi bị đứt tay, hoặc ra huyết nhiều lúc hành kinh.
- Chảy máu tự phát có thể xảy ra khi giảm tiểu cầu nặng (< 10.000 đến 20.000 tiểu cầu/microlít). Thường gặp xuất huyết dưới da hoặc ở niêm mạc miệng, niêm mạc ống tiêu hóa, niêm mạc mũi, hầu, họng.
- Có thể gặp những nốt xuất huyết giảm tiểu cầu (petechiae); đó là các vết xuất huyết nhỏ bằng đầu kim, màu đỏ, phẳng, quan sát thấy dưới da ở những vùng thấp của cơ thể (như ở hai cẳng chân) do tăng áp suất vì trọng lực. Đây chính là hậu quả xuất huyết ở các mao mạch dưới da hoặc niêm mạc.
- Ban xuất huyết giảm tiểu cầu (purpura) là những nốt xuất huyết dưới da có đường kính >3 mm, có thể do sự hội tụ của các nốt xuất huyết.
 

Các biến chứng có thể xảy ra trong bệnh lý giảm tiểu cầu:
- Xuất huyết và mất máu nhiều khi bị vết thương rách đứt da hay chấn thương.
- Xuất huyết tự phát do giảm tiểu cầu thường ít gặp, trừ phi số lượng tiểu cầu giảm xuống dưới 20.000.
- Giảm tiểu cầu tự miễn liên quan đến lupus có thể đi kèm với các biến chứng khác của lupus.
- Ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối (thrombotic thrombocytopenic purpura=TTP) hoặc hội chứng tăng ure máu tán huyết (hemolytic uremic syndrome=HUS) có thể gây ra các biến chứng thiếu máu nặng, lú lẫn, các biến đổi về thần kinh hoặc suy thận.
- Giảm tiểu cầu do heparin (heparin-induced thrombocytopenia=HIT) có thể gây các biến chứng rất nặng liên quan đến vấn đề đông máu. 


Xem thêm : Xuất huyết giảm tiểu cầu có nguy hiểm không?

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

Điều trị tùy thuộc nguyên nhân và mức độ nặng, nhẹ. Một số tình huống đòi hỏi điều trị đặc hiệu và cấp thời trong khi số khác chỉ cần theo dõi định kỳ số lượng tiểu cầu bằng huyết đồ.
- Trong trường hợp giảm tiểu cầu tự miễn (auto-immune thrombocytopenia) hoặc ban xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát (idiopathic thrombocytopenic purpura =ITP), có thể dùng steroids để giảm phản ứng của hệ miễn dịch tấn công lên tiểu cầu. Trong các trường hợp nặng hơn, tiêm tĩnh mạch immunoglobulins (IVIG) hoặc kháng thể để làm chậm lại cơ chế miễn dịch. Các trường hợp kháng trị cần được xử lý bằng phẫu thuật cắt lách. 


- Cần ngưng sử dụng một loại thuốc nào đó khi được xem là nguyên nhân gây giảm tiểu cầu. Đối với các bệnh nhân giảm tiểu cầu do heparin (heparin -induced thrombocytopenia=HIT), cần loại trừ ngay và tránh sử dụng lại heparin, kể cả heparin có trọng lượng phân tử thấp (Lovenox) để đề phòng các phản ứng miễn dịch đối với tiểu cầu.
Khi chẩn đoán là ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối (Thrombotic thrombocytopenic purpura=TTP) hoặc hội chứng tăng ure máu tán huyết (hemolytic uremic syndrome=HUS) cần thực hiện điều trị chuyển đổi huyết tương (plasmapheresis).
- Lọc thận nhân tạo trong trường hợp suy thận.
- Truyền tiểu cầu thường không cần thiết, trừ trường hợp bệnh nhân có tiểu cầu < 50.000 và đang xuất huyết, hay cần được phẫu thuật hoặc thực hiện các thủ thuật xâm lấn khác. Nếu tiểu cầu xuống <10.000 thì cũng nên truyền tiểu cầu dù không xuất huyết.
- Khi nghi ngờ giảm tiểu cầu do heparin (heparin -induced thrombocytopenia=HIT) hoặc ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối (Thrombotic thrombocytopenic purpura=TTP), thường không khuyến nghị truyền tiểu cầu vì tiểu cầu mới có thể khiến cho tình trạng bệnh trở nặng và kéo dài hơn.

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

        Bệnh lý giảm tiểu cầu thường có các biểu hiện như : nốt bầm tím hoặc chấm xuất huyết dưới da nhỏ, chảy máu cam, chảy máu chân răng... Do các triệu chứng trong bệnh lý xuất huyết giảm tiểu cầu khá thường gặp, và dễ bị bỏ qua, nên người bệnh thường không tới khám, hay kiểm tra ngay khi có các biểu hiện trên. Việc chẩn đoán, phát hiện sớm sẽ giúp cho việc điều trị xuất huyết giảm tiểu cầu được kịp thời, tránh chuyển thành mạn tính.

        Tình trạng giảm tiểu cầu thường được tình cờ phát hiện khi kiểm tra huyết đồ. Nếu phát hiện giảm tiểu cầu lần đầu tiên, nên kiểm tra lại huyết đồ để loại trừ tình trạng giảm tiểu cầu giả tạo (pseudothrombocytopenia) do tiểu cầu co cụm lại với nhau. Sau khi kiểm tra, nếu vẫn thấy tình trạng giảm tiểu cầu thì phải tiến hành thêm những bước khác để xác định chẩn đoán.
       Kiểm tra sức khỏe tổng quát và hỏi bệnh sử là việc quan trọng nhất trong đánh giá giảm tiểu cầu. Lập danh sách toàn bộ các thuốc đang dùng. Hỏi tiền sử bản thân, tiền sử gia đình về giảm tiểu cầu, các nhiễm trùng xảy ra gần đây, tiền sử ung thư, các bệnh tự miễn, các bệnh lý về gan.
       Hỏi thêm các triệu chứng về chảy máu kéo dài và những vết bầm tím. Kiểm tra da và niêm mạc miệng để tìm các vết xuất huyết. Kiểm tra bụng xem gan, lách có to. Lách to là một dấu hiệu quan trọng trong chẩn đoán.
       Kiểm tra thêm các thành phần khác của huyết đồ. Xem có tình trạng thiếu máu (lượng hồng cầu hoặc hemoglobin thấp), đa hồng cầu (lượng hồng cầu hoặc hemoglobin cao), giảm bạch cầu hoặc tăng bạch cầu đi kèm? 


       Các bất thường này gợi ý cho thấy những vấn đề ở tủy xương có thể là nguyên nhân của giảm tiểu cầu.
- Hình dạng bất thường và hình ảnh hồng cầu bị vỡ (schistocytes) trên phết máu ngoại biên là bằng chứng của các hội chứng HELLP (tán huyết, rối loạn chức năng gan, giảm tiểu cầu), ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối (Thrombotic thrombocytopenic purpura=TTP), hoặc hội chứng tăng urê máu tán huyết (hemolytic uremic syndrome=HUS).
- Một yếu tố quan trọng khác của huyết đồ là thể tích trung bình của tiểu cầu (mean platelet volume=MPV) dùng để đánh giá kích thước trung bình của tiểu cầu. MPV thấp gợi ý đến những vấn đề về sản xuất tiểu cầu, MPV cao là dấu hiệu của sự tăng phá hủy tiểu cầu.
- Cần kiểm tra thêm những xét nghiệm về chuyển hóa, chức năng đông máu toàn bộ và tổng phân tích nước tiểu, qua đó có thể phát hiện được các tình trạng xơ gan, suy thận, hoặc bệnh lý tiềm ẩn khác.
- Đối với một số nguyên nhân gây giảm tiểu cầu như giảm tiểu cầu do heparin (heparin -induced thrombocytopenia=HIT) hoặc ban xuất huyết giảm tiểu cầu tựphát (idiopathic thrombocytopenic purpura=ITP), cần bổ sung thêm một số xét nghiệm về kháng thể hay xét nghiệm miễn dịch.
- Sinh thiết tủy xương (chọc tủy) nếu nghi ngờ có bệnh lý tủy xương. 

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015


     Y học cổ truyền Trung Quốc (TCM) và Y học cổ truyền Ấn Độ (Ayurveda) là những phương pháp điều trị lâu đời, được sử dụng từ nhiều ngàn năm trước và vẫn tiếp tục được sử dụng cho tới hiện nay. Sau khi có những xem xét về lưỡi, mạch đập, các câu hỏi về tiền sử bệnh, một phương pháp can thiệp có thể được đưa ra. Những can thiệp này thường bao gồm các loại thảo mộc, thay đổi chế độ ăn, thay đổi lối sống, sử dụng âm nhạc, thiền, châm cứu, tập thể dục…
     TCM và Ayurveda
      TCM và Ayurveda dựa trên những đánh giá, kết luận, triết lý điều trị mang tính cá nhân của thầy thuốc, do đó các kết luận và phương án xử lý đề xuất có thể khác nhau bởi các thầy thuốc khác nhau. Các đánh giá, kết luận và các quan điểm điều trị cá nhân này được sử dụng,lưu truyền từ nhiều thế kỷ trước cho tới ngày nay. Đồng thời, nó tiếp tục được phát triển và có những nghiên cứu khoa học đảm bảo và chứng minh cho hiệu quả của các triết lý điều trị này. Không những vậy, ngày nay, các phương pháp này còn được kết hợp cùng với các phương pháp điều trị theo y học hiện đại giúp nâng cao hiệu quả chữa bệnh.

      Bệnh nhân có sự thay đổi đáng kể các triệu chứng của họ trong xuất huyết giảm tiểu cầu ITP khi sử dụng các liệu pháp điều trị dựa trên các lý thuyết của Y học cổ truyền Trung Quốc và Ấn Độ. Trong việc điều trị xuất huyết giảm tiểu cầu ITP theo TCM và Ayurveda, thường có sự kết hợp tổng thể với chế độ ăn và luyện tập, kết hợp điều trị triệu chứng với nguyên nhân sâu sa của bệnh lý, kết hợp thay đổi sinh lý bệnh với tâm lý dựa trên các liệu pháp hướng tới tâm linh, thiền định.
Thực tế có nhiều bệnh nhân áp dụng phương pháp điều trị theo TCM và Ayurveda đã cho những kết quả rất khả quan.
        Thảo dược điều trị :
         Các loại thảo mộc có tác dụng dược lý đã được sử dụng từ lâu trong y học Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Mỹ cũng như trong nhiều hệ thống chữa bệnh truyền thống khác. Trong nhiều thập kỷ, thảo mộc đã trở thành loại thuốc điều trị chính thống được nhiều công ty dược phẩm sử dụng, nhiều công thức kết hợp thảo dược được cấp bằng sáng chế. Nhiều loại hoạt chất dược học làm thuốc cũng được chiết xuất từ chính các loại thảo mộc.
         Nhiều loại thảo mộc được chứng minh qua các nghiên cứu hệ thống là có tác động không tích cực tới máu và tủy xương. Dưới đây là một số loại thảo mộc đã được sử dụng trong điều trị ITP và cho hiệu quả tích cực:
         Thảo dược Trung Quốc:
         Y học cổ truyền Trung Quốc (TCM) chia ITP thành nhiều loại khác nhau: nội nhiệt (liên quan tới viêm nhiễm), thiếu âm (liên quan tới việc sản xuất máu và chất dịch trong cơ thể : thường gây thiếu máu, mất nước), và bế huyết (máu huyết không được lưu thông).

         Trong hệ thống TMC, người thầy thuốc có thể áp dụng những các tiếp cận điều trị khác nhau cho từng bệnh nhân cụ thể, do cá thể mỗi bệnh nhân có sự khác nhau về những tình trạng cơ thể theo sự phân chia của Y học cổ truyền. Do đó, một công thức tiêu chuẩn chung để áp dụng phù hợp cho tất cả các bệnh nhân ITP sẽ gặp phải khó khăn và có thể sự đáp ứng của từng bệnh nhân sẽ khác nhau.              Tuy nhiên, mỗi sản phẩm kết hợp thảo dược này sẽ luôn hướng tới một tỷ lệ đáp ứng cao nhất trên nhiều bệnh nhân nhất và đem lại hiệu quả an toàn nhất.
         Nhiều công thức kết hợp thảo dược của Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia… đã được các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu trên lâm sàng các bệnh nhân ITP và cho kết quả cải thiện đáng kể các triệu chứng, cho thấy tiềm năng trong việc sử dụng thảo dược để điều trị ITP.
        Bood Well (sản phẩm hỗ trợ cân bằng miễn dịch) – một sản phẩm kết hợp thảo dược được cấp bằng sáng chế của Mỹ, và đã được tiến hành khảo sát bởi tổ chức hỗ trợ bệnh nhân xuất huyết giảm tiểu cầu của Mỹ (PDSA). PDSA tiến hành khảo sát hiệu quả các các phương pháp điều trị ITP phi truyền thống và cho kết quả hơn 60% số người được hỏi cảm thấy  Blood Well giúp tăng số lượng tiểu cầu của họ và cải thiện rõ rệt các triệu chứng chảy máu, 22% cảm thấy sản phẩm có tác dụng ảnh hưởng lâu dài.

       Tại Việt Nam, công thức thảo dược trong Bloodwell được sản xuất với tên thương mại là ITPBloodwell.


Thứ Hai, 27 tháng 4, 2015

     Xuất huyết giảm tiểu cầu (ITP) là bệnh lý được xếp vào nhóm bệnh tự miễn, do chính những trục trặc tại hệ thống miễn dịch của cơ thể gây ra.
      Người bệnh thường quan tâm rằng xuất huyết giảm tiểu cầu có nguy hiểm không? Để trả lời cho câu hỏi này, cần tìm hiểu rõ hơn về diễn tiến bệnh và những biến chứng có thể xảy ra khi giảm tiểu cầu quá mức.
     Trên thế giới, tỷ lệ mắc xuất huyết giảm tiểu cầu không quá cao, đặc biệt ở trẻ em, bệnh thường diễn biến cấp tính, có thể hết mà không cần điều trị. Tuy nhiên, nếu không được nhận thức đúng đắn về căn bệnh này, người bệnh thường chủ quan, dẫn tới nhập viện khi tình trạng giảm tiểu cầu đã quá nặng. Nguyên nhân của tình trạng chủ quan này là do những biểu hiện của xuất huyết giảm tiểu cầu thường không đặc hiệu cho bệnh, có thể gặp trong nhiều bệnh lý và cả trong sinh hoạt hàng ngày, như: chảy máu cam, chảy máu chân răng, xuất huyết dưới da, bầm tím...
      Việc tiểu cầu giảm quá mức, có thể dẫn tới những biểu hiện nguy hiểm hơn như : xuất huyết tiêu hóa, đi tiểu ra máu, hoặc thậm chí xuất huyết nội sọ..., làm tăng nguy cơ tử vong.

      Xuất huyết giảm tiểu cầu thường là cấp tính, khoảng 20% số bệnh nhân có thời gian giảm tiểu cầu kéo dài, ít đáp ứng với các phương pháp điều trị và trở thành mãn tính. Chính tình trạng bệnh mãn tính làm ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống sinh hoạt của bệnh nhân xuất huyết giảm tiểu cầu ITP.
Những vết bầm tím trên khắp cơ thể xuất hiện ngay khi không có va chạm, những lần chảy máu bất chợt: chảy máu cam, chảy máu chân răng, đi tiểu ra máu... khiến bệnh nhân khó hòa nhập với cộng đồng. Đặc biệt, tình trạng dễ chảy máu đòi hỏi bệnh nhân phải luôn có những biện pháp phòng vệ an toàn cho bản thân, hạn chế nhiều hoạt động thể thao nhằm giảm tối đa những va chạm dẫn tới xuất huyết có thể xảy ra. Không những vậy, bệnh nhân xuất huyết giảm tiểu cầu còn cần xây dựng chế độ ăn hợp lý, tránh thức ăn gây giảm tiểu cầu và luôn cần có liên hệ chặt chẽ với bác sĩ hoặc nhân viên y tế để trao đổi về thuốc, thực phẩm hay chế độ sinh hoạt hàng ngày.
       Do vậy, mặc dù xuất huyết giảm tiểu cầu có tỷ lệ tử vong không cao, nhưng lại có ảnh hưởng không hề nhỏ tới đời sống sinh hoạt, học tập và làm việc của người bệnh.
       Để giúp các bệnh nhân có thể hòa nhập tối đa với cộng đồng, mỗi bệnh nhân và gia đình đều cần trang bị những kiến thức cần thiết về căn bệnh này, nhằm xử lý kịp thời các tình huống phát sinh.

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015

Xuất huyết dưới da
Bình thường máu trong cơ thể chúng ta lưu thông trong lòng các mạch máu thuộc hệ thống tuần hoàn. Nếu vì một nguyên nhân nào đó, khiến cho mạch máu bị rò rỉ và các thành phần của máu bị tràn ra ngoài lòng mạch, sẽ làm xuất hiện các nốt hoặc các mảng bầm tím, hoặc các khối tụ máu mà chúng ta có thể nhìn thấy (nếu là các mạch máu dưới da) hoặc không nhìn thấy (nếu là các mạch máu sâu trong cơ thể). Đây là hiện tượng xuất huyết.
Có nhiều loại xuất huyết, có thể là xuất huyết dưới da hoặc xuất huyết nội tạng. Trong đó, thường gặp và dễ nhận biết nhất là tình trạng xuất huyết dưới da.
Nhiều người rất thường xuyên xuất hiện những nốt hoặc vết bầm tím này chỉ với các va chạm nhẹ hay thậm chí cả khi họ không có va chạm nào.
Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn tới những nốt/mảng xuất huyết dưới da, tùy theo từng nguyên nhân mà tình trạng này có thể diễn ra với mức độ thường xuyên và mức độ nghiêm trọng khác nhau.

Các hình thái xuất huyết dưới da:
Có 3 hình thái xuất huyết dưới da chính là:
Nốt xuất huyết: Thường có đường kính khoảng một vài milimet, có thể to hơn nhưng đường kính không quá 1cm, màu đỏ, phẳng với mặt da, ấn phiến kính hoặc căng da không mất và biến mất trong 2-5 ngày.
Nốt xuất huyết dưới da cần phân biệt với:
-          Nốt muỗi đốt hoặc cồn trùng đốt: các nốt này thường nổi gờ trên mặt da, ngứa, căng da hoặc ấn phiến kính thì mất.
-          Nốt ruồi son: Thường có màu đỏ, tồn tại lâu, không mất đi theo thời gian.
Mảng xuất huyết: Có đường kính lớn hơn 1cm, màu sắc của mảng xuất huyết biến đổi theo thời gian: lúc mới đầu có màu đỏ sẫm, sau trở thành tím, rồi chuyển thành màu xanh và cuối cùng chuyển thành màu vàng rồi mất hẳn. Mảng xuất huyết không nổi gờ trên mặt da, không ngứa, không đau, ấn phiến kính và căng da không mất.
Nếu nhiều nốt xuất huyết tập trung tại một vị trí còn gọi là đám xuất huyết; những nốt xuất huyết tập trung ở nếp gấp khủy tay, kheo chân còn gọi là vệt xuất huyết.
Mảng xuất huyết dưới da phân biệt với:
-          Ban dị ứng: màu hồng đỏ, thường ngứa và có thể gờ trên mặt da, căng da hoặc ấn phiến kính thì mất màu (vì đây là tình trạng xung huyết).
-          Ban nhiễm sắc cố định: Có màu sắc sẫm đen hoặc hồng, thường phẳng với mặt da, không ngứa, không đau, ấn phiến kính hoặc căng da không mất màu và tồn tại lâu nhiều tháng hoặc nhiều năm.
-          U mạch máu thể phẳng: Màu đỏ, tồn tại lâu nếu không được xử lý, không ngứa, không đau, ấn phiến kính hoặc căng da có thể làm giảm hoặc mất màu.
Ổ máu tụ dưới da: làm da nổi phồng lên thành cục chắc và đau, bên trong chứa đầy máu.
Xác định vị trí xuất huyết dưới da:
Xuất huyết dưới da chỉ có ở tứ chi đặc biệt là ở cẳng chân thường gặp trong viêm thành mạch dị ứng; gặp cả ở tứ chi, thân mình và cả ở đầu, mặt, thường gặp trong bệnh lý giảm tiểu cầu hoặc rối loạn đông máu .
Tính chất xuất huyết dưới da:
-          Xuất huyết đối xứng hai bên là đặc điểm của viêm thành mạch dị ứng.
-          Màu sắc các nốt, mảng xuất huyết đồng đều nói lên tính chất cấp tính hoặc mới mắc, màu sắc không đồng đều nói lên tính chất mạn tính.
Nguyên nhân gây xuất huyết dưới da: xuất huyết dưới da có thể bắt nguồn từ nhiều bệnh lý khác nhau, hoặc ngay trong cuộc sống sinh hoạt đời thường như chấn thương trong lao động, thể thao, tai nạn giao thông, do đả thương...
Một số bệnh lý gây xuất huyết dưới da như:
-          Tổn thương thành mạch bẩm sinh hoặc mắc phải.
-          Giảm tiểu cầu (giảm chất lượng hoặc số lượng tiểu cầu)
-          Do rối loạn cơ chế đông máu;
-          Do các bệnh nhiễm khuẩn như não mô cầu, bạch hầu, thương hàn, sởi, sốt xuất huyết;
-          Do một số bệnh miễn dịch - dị ứng;
-          Một số bệnh nội khoa khác cũng dễ gây xuất huyết dưới da như lao, tiểu đường, xơ gan, suy thận;
-          Do các bệnh có rối loạn các yếu tố đông máu như Hemophilie.
-          Do bệnh gây ra hội chứng đông máu rải rác trong lòng mạch.
-          Do thiếu vitamin C, PP... 

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015

Bệnh tự miễn là một rối loạn xảy ra tại hệ thống miễn dịch.
1, Thế nào là bệnh tự miễn?
Bệnh tự miễn là bệnh được đặc trưng bởi cơ thể sản xuất tự kháng thể hoặc một dòng lympho T tự phản ứng để chống lại một hay nhiều tổ chức của chính cơ thể mình.
Bình thường hệ miễn dịch của cơ thể không chống lại thành phần của bản thân do có sự dung thứ miễn dịch. Dung thứ miễn dịch có được từ trong thời kỳ bào thai, do các tế bào có năng lực miễn dịch đã nhận dạng được tất cả các thành phần của cơ thể nên không có phản ứng chống lại như đối với vật lạ từ ngoài vào.
Tuy nhiên, tự miễn không phải bao giờ cũng là bệnh lý, vì bình thường trong cơ thể người có nhiều tự kháng thể nhưng không gây ra bệnh lý (như kháng thể chống hồng cầu già), chúng vô hại do có nồng độ thấp. Trong trường hợp tự kháng thể gây hại cho cơ thể gọi là bệnh tự miễn.

2, Bệnh tự miễn sinh ra do đâu?
Có nhiều cách để lý giải cho việc sinh ra các tự kháng thể và các bệnh tự miễn ;
-          Một thành phần nào đó của cơ thể bị thay đổi tính chất, cấu hình do tác dụng của các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học, vì vậy bộ phận đó của cơ thể trở thành lạ và lúc  này, cơ thể sẽ sinh ra các tự kháng thể chống lại tổ chức đó (tự kháng thể này sinh ra sau khi cơ thể bị nhiễm xạ, bỏng, viêm gan virus, nhiễm độc, sau dùng hóa chất và thuốc).
-          Kháng nguyên lạ bên ngoài có cấu trúc tương tự một thành phần của cơ thể nên kháng thể chống lại kháng nguyên bên ngoài phản ứng luôn với thành phần cơ thể, như trong các bệnh thấp tim, thấp khớp cấp.
-          Một số tổ chức, thành phần của cơ thể không được nhận diện trong thời kỳ phôi, ít hoặc chưa được tiếp xúc với miễn dịch của cơ thể (như tiền phòng trong nhãn cầu). Cho tới khi có các chấn thương, các thành phần này lọt vào máu, trở thành yếu tố lạ đối với hệ miễn dịch, lúc này cơ thể sẽ sinh kháng thể chống lại.
-          Sự rối loạn cân bằng giữa các dòng tế bào lympho T. Trong số các loại tế bào lympho T có 2 loại lympho T ức chế (làm nhiệm vụ ức chế phản ứng loại trừ kháng nguyên) và lympho T hỗ trợ ( phát động các phản ứng tiêu diệt kháng nguyên). Khi hoạt động của 2 dòng tế bào này bị rối loạn, mất cân bằng giữa quá trình ức chế miễn dịch và quá trình phát động khởi phát miễn dịch sẽ dẫn tới những rối loạn miễn dịch của cơ thể.
Cần lưu ý rằng, bệnh tự miễn không phải là một phản ứng quá mẫn, không hoàn toàn do sự đáp ứng miễn dịch quá mức của cơ thể mặc dù nó có thể đáp ứng tốt với các thuốc ức chế miễn dịch (như các corticoids). Sự rối loạn, mất cân bằng trong đáp ứng miễn dịch được xem là một nguyên nhân và có thể suy ra một mục tiêu điều trị cho các bệnh này : điều hòa miễn dịch, cân bằng lại các đáp ứng miễn dịch.
3, Bệnh tự miễn bao gồm những loại nào?
-          Bệnh tự miễn cơ quan : Các tự kháng thể chống lại một thành phần đặc hiệu cho một cơ quan nhất định, như :
+  Xuất huyết giảm tiểu cầu tự miễn (ITP) : có sự tham gia của các tự kháng thể chống tiểu cầu.
+ Thiếu máu tan máu tự miễn : do tự kháng thể chống hồng cầu gây tan máu.
+ Bệnh Basedow : tự kháng thể kháng thụ thể TSH
+ Đái tháo đường typ I : tự kháng thể chống tế bào β đảo tụy làm giảm sản xuất insulin.

-          Bệnh tự miễn hệ thống :  Tự kháng thể (hoặc lympho T tự phản ứng ) chống lại các kháng nguyên của một mô. Mô này không đặc hiệu cho cơ quan nào  mà có ở nhiều cơ quan của cơ  thể, vì vậy bệnh biểu hiện ở nhiều cơ  quan khác nhau, như : Lupus ban đỏ hệ thống, xơ cứng bì hệ thống, Viêm khớp dạng thấp...
1, Thế nào là miễn dịch?
Miễn dịch là khả năng của cơ thể nhận biết, đáp ứng và loại bỏ các yếu tố lạ gây hại, là phương thức đề kháng tự vệ quan trọng của cơ thể. Khi yếu tố lạ (được gọi là kháng nguyên) xâm nhập, cơ thể sẽ vận hành một số tế bào và phân tử có sẵn để ngăn chặn kịp thời, xử lý kháng nguyên và sau đó tạo ra các tế bào, phân tử đặc hiệu tương ứng với từng loại kháng nguyên để  loại trừ chúng.
Đáp ứng miễn dịch ở người được chia làm 2 loại :
-          Đáp ứng miễn dịch tự nhiên (miễn dịch không đặc hiệu hay miễn dịch bẩm sinh) là loại miễn dịch có sẵn trong cơ thể khi mới sinh ra, mang tính di truyền, không đòi hỏi phải có sự tiếp xúc trước đó của cơ thể với kháng nguyên xâm nhập lần đầu hay lần sau.
Miễn dịch tự  nhiên giúp nhận biết cái gì của cơ thể và cái gì không phải của cơ thể. Các thành phần tham gia vào miễn dịch tự nhiên bao gồm : da và niêm mạc, các tế bào (đại thực bào, bạch cầu trung tính, tế bào diệt tự nhiên,, bạch cấu ái kiềm, bạch cầu ái toan, tế bào mast...), các phân tử trong mô và dịch cơ thể : hệ thống bổ thể, interferon.
-          Miễn dịch đặc hiệu (miễn dịch thu được) là trạng thái miễn dịch xuất hiện do kháng thể đặc hiệu tương ứng với từng kháng nguyên được tạo ra sau khi cơ thể tiếp xúc với kháng nguyên. Cơ thể có thể tiếp xúc kháng nguyên một cách ngãy nhiên (như bị nhiễm vi khuẩn trong môi trường sống) hoặc tiếp xúc chủ động (tiêm vaccine phòng bệnh).
Miễn dịch đặc hiệu bao gồm 2 phương thức : miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào. Sự tham gia của các tiểu quần thể lympho T trong tiêu diệt kháng nguyên được gọi là đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào. Sự tham gia của các lympho B thông qua sản xuất kháng thể để tiêu diệt kháng nguyên được gọi là đáp ứng miễn dịch dịch thể.
2, Các tế bào miễn dịch được sinh ra ở đâu?
Các tế bào miễn dịch cũng như các tế bào máu nói chung đều xuất phát từ các tế bào nguồn (tế bào gốc) ở tủy xương. Các tế bào gốc này sinh ra các tế bào cấp dưới và từ đó sinh ra dòng tế bào máu.
Nguồn gốc các tế bào máu và tế bào tham gia đáp ứng miễn dịch
Từ tế bào gốc đa năng phát triển và biệt hóa thành 03 dòng tế bào định hướng : dòng hồng cầu, dòng lympho và dòng tủy. Các bạch cầu dòng tủy chủ yếu tham gia hệ miễn dịch tự nhiên, các tế bào lympho tham gia miễn dịch đặc hiệu (trừ tế bào NK- diệt tự nhiên).
Các lympho sau khi ra khỏi tủy xương sẽ được xử lý ở tuyến ức trở thành lympho T, chịu trách nhiệm về miễn dịch tế bào.  Tuyến ức là nơi hướng dẫn cho các tế bào lympho T phân biệt các tổ chức, phân tử của cơ thể với các  tổ chức khác cơ thể, giúp chúng nhận diện kháng nguyên lạ một cách chính xác. Do đó ở nhiều bệnh tự miễn, các nhà khoa học cho rằng có thể tới từ nguyên nhân là những trục trặc trong quá trình hướng dẫn này tại tuyến ức.
Các tế bào lympho được xử lý bởi các tổ chức tương đương Fabricius (gan, tủy xương) trở thành lympho B – chịu trách nhiệm về miễn dịch dịch thể.

Xem thêm: Thông tin cơ bản về máu và hệ tạo máu
3, Kháng nguyên và kháng thể hoạt động như thế nào ?
Kháng nguyên là những chất khi xâm nhập vào cơ thể có khả năng kích thích cơ thể sinh kháng thể đặc hiệu và kết hợp được với kháng thể đó. Đây là các chất lạ đối với cơ thể.
Kháng thể : là một thành phần trong huyết thanh được gọi là globulin miễn dịch (Ig). Kháng thể được tạo ra trong quá trình đáp ứng miễn dịch, có khả năng kết hợp với kháng nguyên đặc hiệu.
Có 5 loại glubulin miễn dịch : IgG, IgA, IgD, IgM, IgE.
4, Hệ thống miễn dịch tiêu diệt kháng nguyên lạ như thế nào?
Quá tình tiêu diệt một kháng nguyên lạ xâm nhập vào cơ thể được thực hiện bởi hệ thống miễn dịch, thông qua nhiều cơ chế : miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể với sự tham gia của nhiểu thành phần trong hệ thống miễn dịch.
Hàng rào đầu tiên do hệ miễn dịch dựng lên để bảo vệ cơ thể là da và niêm mạc. Hàng rào đầu tiên này giúp ngăn cản sự nhâm nhập của các tác nhân lạ vào cơ thể. Các chất nhầy bao quanh niêm mạc cũng thuộc hàng rào này (dịch nhầy quanh niêm mạch  mũi, họng...), chúng giúp bắt giữ các tác nhân lạ.
Quá trình bắt giữ, xử lý và trình diện kháng nguyên trong cơ thể
Tiếp theo đó, nếu các tác nhân lạ vượt qua được hàng rào đầu tiên này, thì ngay khi chúng vào tới cơ thể, sẽ gặp phải sự tấn công của các tế bào bạch cầu theo cơ chế miễn dịch tự nhiên :  các bạch cầu trung tính, các đại thực bào (bạch cầu mono) gắn vào vật lạ, bao vây tạo thành túi kín chứa vật lạ bên trong, tiếp đó vật lạ bên trong tế bào các bạch cầu sẽ bị tiêu diệt bởi các enzyme tiêu hóa trong túi thực bào này. Cũng theo cơ chế miễn dịch tự nhiên, còn có sự tham gia của các tế bào bạch cầu ưa acid, các tế bào diệt tự nhiên. Các tế bào này trực tiếp giải phóng các chất trung gian có thể giết ký sinh trùng.
Đáp ứng miễn dịch đặc hiệu cũng không đứng ngoài quá trình tiêu diệt kháng nguyên lạ vào cơ thể. Các kháng nguyên lạ khi xâm nhập vào cơ thể, chúng đồng thời sẽ được nhận diện bởi 1 loại tế bào lympho T (được gọi là lympho T hỗ trợ). Các tế bào lympho T này sau khi nhận ra kháng nguyên lạ sẽ kích hoạt hoạt động của các tế bào lympho T khác, dẫn tới sự ly giải tế bào, tạo ổ viêm và thu hút các đại thực bào tới thực bào và dọn dẹp. Đồng thời các tế bào lympho T hỗ trợ, tế bào bạch cầu mono (đại thực bào) sẽ kích hoạt các tế bào lympho B trở thành các tế bào plasma. Chính các plasma này sẽ làm nhiệm vụ sản xuất kháng thể  đặc hiệu với từng loại kháng nguyên duy nhất.
Các kháng thể sinh ra kết hợp đặc hiệu với kháng nguyên tạo ra phức hợp kháng nguyên – kháng thể được gọi là phức hợp miễn dịch, làm vô hiệu hóa các kháng nguyên, và tạo điều kiện cho các đại thực bào tới dọn dẹp, ly giải và loại trừ kháng nguyên ra khỏi cơ thể.
Ngược lại, các kháng thể trong hệ thống đáp ứng miến dịch đặc hiệu cũng có vai trò hoạt hóa trở lại các thành phần của hệ miễn dịch tự nhiên, như : hoạt hóa tế bào diệt tự nhiên NK, hoạt hóa tế bào thực bào và các tế bào bạch cầu  khác.
Nếu các kháng nguyên này bị bắt giữ ngay khi còn ở trong hệ thống bạch huyết thì các phức hợp miễn dịch sẽ được chuyển tới các hạch bạch huyết, các mô bạch huyết – nơi tập trung nhiều tế bào bạch cầu làm nhiệm vụ thực bào và ly giải. Nếu kháng nguyên đã đi được vào máu và bị bắt giữ tại đây, thì các phức hợp miễn dịch này sẽ được chuyển tới lách để phân giải và tiểu diệt.
Cả tế bào lympho B và lympho T đều gồm những tế bào có chức năng ghi nhớ miễn dịch. Các tế bào này sau khi tiếp xúc với kháng nguyên lần đầu sẽ ghi nhớ các kháng nguyên này, giúp cho các đáp ứng miễn dịch lần tiếp xúc sau mạnh hơn và nhanh hơn. Đó là lý do giải thích cho việc tiêm vaccine để chủ động tạo ra trí nhớ miễn dịch cho cơ thể.